15/05/2026
"Ngậm Ngải tìm trầm".
Thành ngữ này đã có tự ngàn xưa, không chỉ lưu truyền trong giới săn hay mua bán Trầm hương mà ngoài giới cũng thường nhắc đến.
Trầm là vật quý hiếm được xác lập từ đời xa xưa đến tận hôm nay và mãi mai sau...!
Thành ngữ ấy xác lập mối quan hệ bắt cầu: Muốn có được trầm thì phải " ngậm ngải" Trầm thì phải " tìm". Tất nhiên đã tìm kiếm thì dùng bằng.... mắt. Đã ngậm thì đương nhiên " ngậm trong miệng". Ngậm trong miệng, đương nhiên phải là một vật hữu hình nào đó. Vật ngậm trong miệng ấy, từ xưa đến nay, ai ai cũng khẳng định là cây Ngải". Người cho rằng, cây Ngải là vị thuốc quý, bồi bổ sức khoẻ con người. Người khác đó là loài cây linh thiêng, kỳ bí có thể làm bùa hộ mạng hoạt... đoạt mạng người như chơi! Linh thiêng ấy khiến ai cũng kinh sợ.
Thành ngữ" Ngậm ngãi tìm trầm" được giải thích như vậy cũng có tính thuyết phục. Và tất nhiên, có nhiều người tin và cũng lắm người không tin.
Hai góc nhìn đó, cá nhân tui vẫn cho sự giải thích " cây Ngải linh thiêng" có tính thuyết phục hơn.
Tuy thuyết phục hơn bởi có lý hơn nhưng chưa khiến tui tâm phục khẩu phục.
Với thành ngữ này, tôi có góc nhìn khác và giải thích khác Đời hơn!
Góc nhìn khác có chất Đời hơn:
Khi viết rõ :" Ngậm Ngải, tìm Trầm" thì xác định danh từ " Ngải" có dấu hỏi thì đó được hiểu là loại cây rừng có tên là cây Ngải". Thế nhưng, ngày xưa, rất hiếm hoi chữ nghĩa, nhất là dân phu trầm, điệu trầm, đa số là ít học hoặc... không học chữ. Thế nên họ chỉ nói và nghe. Khi nghe và nói thì khó mà phân biệt dấu thanh: hỏi và ngã. Cho nên Ngải có thể là Ngãi.
Nếu Ngải là danh từ cây cỏ thì Ngãi vừa là danh từ hoặc tính từ, nói về đức tính của con người.
Đối với dân miền trung, " Ngãi" và " Nghĩa" có cùng thuộc tính. Ví dụ:" Kiến nghĩa( ngãi) bất vi vô dõng dã- Lâm nguy bất cứu. mạc anh hùng"- rất giang hồ hảo hớn! Hoặc Quảng Ngãi còn được gọi là Quảng Nghĩa, thời nhà Nguyễn, tránh phạm huý Chúa Ngãi.
Thành ngữ, ca dao xưa, tuy truyền khẩu và không xác định được tác giả cụ thể nhưng chắc chắn là sản phẩm của người từng trải và có học thức trong dân.
Là truyền khẩu thì khó phân biệt dấu thanh, dấu hỏi với dấu ngã. Từ đó, có thể ý và tứ sâu sắc của thành ngữ ấy biến dị.
"Ngậm ngải tìm trầm" như trên đã nói, tính thuyết phục không cao.
Nhưng, chuyển Ngải dấu hỏi thành Ngãi có dấu ngã thì hợp lý và sâu sắc hơn nhiều!
"Ngậm ngải tìm trầm" như lâu nay được hiểu có lý của nó. Không có lý, sao tồn tại đến tận hôm nay?
Nhưng nếu nhìn bằng chiều sâu của đời sống phu trầm, Ngải đã chuyển nghĩa thành" Ngãi", Đời hơn, cận nhân tình hơn! Dữ dội hơn! Đẹp hơn! Đầy chất Người!
Tìm trầm là hành trang đầy gian nan, luôn tiềm ẩn rủi ro, khó hoặc không biết sống chết thế nào. Đó rừng sâu nước độc, lam sơn chướng khí, thú dữ rình rập trùng trùng. Thật đáng sợ! Nhưng vẫn chưa đáng sợ bằng lòng tham hiểm, độc ác của lòng người.
Trầm hương là vật quý hiếm, có giá trị liên thành. Chỉ cần một miếng Kỳ Nam nhỏ cũng có thể đổi đời, giàu sang chẳng mấy chốc.
Chính vì vậy, đoàn phu trầm trên hành trình " tìm Trầm" không những mang theo dụng cụ, thực phẩm, kinh nghiệm... mà còn mỗi người mang theo chữ " Nghĩa"!
Đoàn người liều lĩnh, sẵn sàng hy sinh tính mệnh băng rừng vượt suối, trăm bề khổ cực để mong tìm được Trầm. Đi tìm thôi! Tìm có khi có và cũng có khi không có!
Không có hoặc có chẳng mấy giá trị thì cũng.... bớt rủi ro tính mạng. Nhưng có được Trầm hương hay Kỳ Nam với một số lượng có giá trị nào đó thì....
"Hoạ hổ hoạ bì nan hoạ cốt. Tri nhân tri diện bất tri tâm.".
Đúng vậy, "dò sông dò biển dễ dò- Mấy ai lấy thước mà đo lòng người".
Nơi rừng sâu nước độc, bản chất con người dễ bộc lộ. Khi đói, khi kiệt sức, nhất là khi có món lợi có giá trị vô đối như Trầm Kỳ, lòng tham như cỏ dại mọc sau cơn mưa. Một người có thể phát hiện được ổ trầm vội giấu kín. Người thì bỏ bạn lúc đói khát, để tranh phần sống. Có khi tìm cách tước đoạt mạng sống của nhau để sở hữu một mình- vật quý Trầm Kỳ....
Tham vàng còn bỏ ngãi. Huống hồ Trầm có giá trị gấp trăm, mười lần vàng!
Bản chất thú hoang của con người là vậy! Kinh nghiệm của các phu trầm trước đó đã truyền nhau là vậy!
Bởi chính vậy, trước khi nơi rừng thiêng nước độc, phu trầm có lời hẹn ước, thề thốt rất nặng- thậm chí cắt máu ăn thề! Không chỉ chia phần cho công bằng mà còn sống chết có nhau, đồng sinh đồng tử. Gặp nạn không bỏ nhau. Thấy trầm kỳ không phản bạn và chiếm đoạt cho riêng mình.
Đó là ngậm ngãi trong miệng( lời thề giữ Nghĩa khí). Ngậm là không buông, luôn giữ chặt, cắn chặt lời thề trước đó.
Con người đi tìm cái quý trên đời, luôn thử thách lòng tham bản năng, huống hồ một đoàn phu trầm!
Ngãi là Đạo của con Người! Một ai đó sống bất Nghĩa, bất Ngãi thì khác chi loài vật hoang dã!
Bài học là:
Ngậm ngãi tìm trầm không còn chuyện mưu sinh đơn thuần mà là triết lý sống. Người xưa quý phu trầm không những họ là người gan dạ, bản linh mà vì giữa chốn dễ sinh lòng tàn ác nhất, nguy nan nhất mà vẫn và đối xử giữa người và người, với đồng đội bằng NGHĨA KHÍ thiêng liêng ngút trời! Bằng hữu thủ tín. Đồng cam cộng khổ. Cộng sinh đồng tử. Tuy nhuốm màu sắc giang hồ, phiêu bạt nhưng sâu thẳm trong họ là tấm lòng Nhân Hậu.
Cuối cùng, cái giá lớn nhất không phải là Trầm Kỳ hiện hữu mà là Chữ Nghĩa đã ngậm, đã nuốt, đã thấm vào trong phu trầm, trước sau như một, hữu thuỷ hữu chung. Đây mới “Ngãi” của đời Người Phu Trầm.