22/06/2019
BẠN LÀ AI TRONG SỐ 5 LOẠI TÍNH CÁCH NÀY ?
Bạn đã bao giờ tự hỏi bản thân rằng liệu công việc hiện tại mà bạn đang làm hay mong muốn làm trong tương lai có phù hợp với tính cách bạn hay không? Nếu bạn vẫn đang loay hoay đi tìm câu trả lời thì mô hình 5 tính cách
(Big 5 Personality Model) sẽ là một trợ thủ đắc lực dành cho bạn. 5 loại tính cách trong mô hình bao gồm: hướng ngoại (extraversion), tận tâm (conscientiousness), dễ chịu (agreeableness), sẵn sàng trải nghiệm (openness to experience) và neuroticism (tâm lý bất ổn).
“Biết mình biết người, trăm trận trăm thắng”, việc hiểu rõ những điểm mạnh, điểm yếu của từng loại tính cách sẽ là chìa khóa giúp cho bạn luôn cảm thấy hạnh phúc trong công việc cũng như trong cuộc sống. Hãy cùng Học Gì Làm Gì tìm hiểu về 5 loại tính cách ở bài viết dưới đây nhé!
Hướng ngoại (extraversion) – hòa đồng/mạnh mẽ vs. đơn độc/kín đáo
Đặc điểm của tính cách hướng ngoại là bề rộng của các mối quan hệ và các hoạt động (đối nghịch với chiều sâu). Người có điểm hướng ngoại cao thường cảm thấy các bữa tiệc tùng và đủ loại hoạt động là nguồn năng lượng của mình. Họ thích tìm kiếm và cần các nguồn kích thích từ môi trường xung quanh, cơ hội để gia nhập với người khác. Họ cũng thường rất hăng hái, nhiệt tình, theo trường phái hành động, làm trước nghĩ sau, thích nói chuyện và khẳng định mình. Họ muốn thay đổi cả thế giới hơn là hiểu về nó, và họ thường học hành rất tốt ở trường trung học nhưng có thể nhận ra đại học quá khó cho mình.
Người hướng ngoại như một biến số thích chuyển động, dễ hiểu và dễ tiếp cận. Thái độ của họ thường rất tự tin và thoải mái. Thường thì những người này được miêu tả như tràn trề sức sống và rất tích cực. Trong công việc, họ thường thích làm việc với người khác và thích các công việc có chiều rộng hơn chiều sâu.
Còn người hướng nội (người có điểm hướng ngoại thấp) thường ít hòa mình với xã hội. Nếu như các mối quan hệ, tiệc tùng, hoạt động là nguồn năng lượng của người hướng ngoại thì người hướng nội nạp năng lượng cho mình bằng cách ở một mình. Họ thường rất yên lặng, không nổi bật và không hòa nhập nhiều. Sự thiếu hụt hòa nhập xã hội này không nên được lý giải như ngại ngùng hay trầm uất, thay vào đó họ thường độc lập khỏi thế giới ngoại giao của mình hơn người hướng ngoại.
Người hướng nội cần ít sự kích thích và cần nhiều thời gian ở một mình hơn người hướng ngoại. Điều này không có nghĩa là họ không thân thiện hay phản xã hội mà là họ thường kín đáo hơn trong các tình huống xã hội. Năng lượng của họ tập trung vào thế giới bên trong họ với những suy nghĩ hơn là sự kích thích bên ngoài. Thay vì thay đổi thế giới thì người hướng nội lại thích nghĩ và tìm hiểu về nó hơn. Họ suy nghĩ rất sâu về nhiều thứ và thường học tốt ở bậc đại học hơn là trung học. Họ cũng thích những công việc có chiều sâu hơn chiều rộng.
Tận tâm (conscientiousness) – hiệu quả/thiết lập vs. dễ dãi/ bất cẩn
Xu hướng làm việc theo hệ thống và đáng tin cậy, có kỷ luật cho bản thân mình, có trách nhiệm với công việc và thường lên kế hoạch mọi thứ trước hơn là hành động bộc phát bốc đồng. Người có điểm cao ở mặt này thường có mong muốn hoàn thành công việc được giao một cách tốt nhất, và thường đặt ra mục tiêu để đạt được những thành tựu trong công việc. Do đó có đôi khi họ được miêu tả như những người cứng đầu.
Những đặc điểm tính cách của họ bao gồm ngăn nắp, có hệ thống, cẩn thận, hoàn hảo, suy tính thiệt hơn. Ví dụ như những quyển sách được sắp trên kệ sách nhà họ theo bảng chữ cái, hoặc theo chủ đề hơn là quăng lung tung trong phòng. Quần áo được xếp ngăn nắp bỏ vào tủ hơn là vương vãi trên sàn nhà. Trong công việc, họ là những nhân viên chăm chỉ , tuy nhiên ở mức độ cực điểm, họ có thể là những người “cuồng công việc”, theo chủ nghĩa hoàn hảo (perfectionism) và có những hành vi cưỡng chế (compulsive).
Những người có điểm thấp ở mặt tính cách này thường rất dễ dãi, không có mục tiêu nhất định, thường không đáng tin cậy. Một số nghiên cứu chỉ ra những người có điểm thấp thường có xu hướng phạm pháp, cũng như thất nghiệp, vô gia cư và tù tội. Họ cũng gặp khó khăn khi tiết kiệm tiền. Hơn nữa một người có chỉ số tận tâm và dễ chịu thấp thì thường lạm dụng chất kích thích nhiều hơn.
Dễ chịu (agreeableness) – thân thiện/có lòng trắc ẩn vs. cứng nhắc/tách biệt
Xu hướng dễ động lòng và hợp tác hơn là nghi ngờ và đối nghịch. Những đặc điểm hành vi của mặt tính cách này được coi là tốt bụng, thông cảm, hợp tác, ấm áp và quan tâm. Những người có điểm cao ở mặt này thường có xu hướng tin rằng đa phần mọi người rất trung thực, tốt bụng và đáng tin cậy. Họ thường có lòng vị tha và hay giúp đỡ người khác. Những thực nghiệm cho thấy đa số người ta giúp đỡ những người nào giống mình, hoặc chỉ giúp đỡ khi thấy thấu cảm cho người khác.
Tuy nhiên những người có chỉ số dễ chịu cao thường giúp người khác ngay khi những điều trên không có mặt. Nói cách khác, những người dễ chịu thường có “đặc tính giúp đỡ” và không cần bất cứ động lực gì khi giúp đỡ. Những người này được miêu tả như ngây thơ và dễ bảo.
Ngược lại với tính thích giúp đỡ của người dễ chịu, những người có điểm thấp ở mặt này thường gây tổn thương đến những người khác. Những nhà nghiên cứu chỉ ra mối tương quan giữa độ dễ chịu thấp với những suy nghĩ nóng nảy và kích động ở thanh thiếu niên. Những người có độ dễ chịu thấp cũng thường có định kiến chống lại những nhóm bị bêu xấu như béo phì. Độ dễ chịu thấp cũng có tương quan tới một số bệnh tâm lý như xu hướng ái kỷ (yêu bản thân) và phản xã hội. Những người này thường có tính cạnh tranh, thách thức cao, có đôi khi được coi là khiêu khích hoặc không đáng tin.
- Big 5 Personality Model
Tham khảo : Beautiful Mind VN